Đổi thay trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số

28/09/2012

Theo thống kê mới nhất, 100% hộ dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đăk Lawk đã đã sống định canh, định cư, xây dựng buôn làng giàu đẹp, đời sống vật chất, tinh thần ngày một nâng lên. Các huyện Krông Pák, Ea H’Leo, Cư M’Gar, Cư Kuin, Krông Ana là những địa phương thực hiện khá tốt phong trào định canh định cư, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ được nâng cao, riêng huyện Krông Pák đang phấn đấu đến năm 2012 đạt huyện văn hóa cấp khu vực Tây Nguyên.

Đắk Lắk hiện có 43.646 hộ, với trên 322.000 nhân khẩu là đồng bào dân tộc Êđê, M’nông, J’rai (đồng bào dân tộc bản địa) cư trú ở 125 xã, 598 buôn. Trong những năm qua, Đắk Lắk đã thực hiện tốt các Nghị quyết chuyên đề về đầu tư phát triển kinh tế, xã hội thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, các Chương trình 134, 135, Quyết định 168 , chương trình trợ cước, trợ giá, giao rừng, khoán bảo vệ rừng thí điểm theo Quyết định 304 của Thủ tướng Chính phủ...

Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, Đắk Lắk đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, trường, trạm, hệ thống giao thông nông thôn, thủy lợi...), an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đến nay, Đắk Lắk đã đầu tư trên 230,3 tỷ đồng giải quyết cơ bản vấn đề đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Chương trình 134. Tỉnh cũng đầu tư trên 355 tỷ đồng kéo điện lưới quốc gia về cho 78 buôn căn cứ cách mạng và các buôn, hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đưa tỷ lệ số hộ gia đình đồng bào dân tộc có điện lưới quốc gia lên 73,79%. Từ năm 2005 đến nay, tỉnh trích ngân sách mua và hỗ trợ cho đồng bào nghèo trên 1,5 triệu cây giống chủ yếu là các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả chất lượng cao, 7.024 con bò, gần 60 tấn lúa , ngô lai, đậu đỗ giống. Tỉnh đặt biệt chú trọng đưa các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công về các buôn làng đồng bào định canh, định cư, xây dựng chính sách khuyến nông viên cơ sở, với tiêu chí mỗi xã, buôn, thôn có một khuyến nông viên được hưởng phụ cấp từ ngân sách Nhà nước. Qua đó đã góp phần đưa năng suất lúa lên 70 tạ/ha, năng suất cà phê lên 3 tấn cà phê nhân/vụ, thu nhập bình quân đầu người đạt 4,5 triệu đồng/người/năm; riêng huyện Krông Pák đạt trên 10 triệu đồng/người/năm, giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 15 triệu đồng/ha/năm.

Bên cạnh đó, tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng cho mỗi thôn, buôn; xây dựng cơ sở vật chất trường học từ bậc học mầm non đến trung học phổ thông và hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng chương trình dạy song ngữ Việt - Êđê ở 83 trường tiểu học và trung học cơ sở cho gần 12.000 học sinh dân tộc Êđê của các vùng định canh, định cư...

Còn tại Lâm Đồng, qua khảo sát đánh giá tổng quan, các chương trình đầu tư vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng từ năm 2000 – 2009 đạt hiệu quả cao với tổng mức đầu tư là 1.237 tỷ đồng.

Trong tổng vốn đầu tư đó có 800 tỷ đồng vốn từ các chương trình mục tiêu và 437 tỷ đồng vốn lồng ghép từ nhiều nguồn khác. Chương trình 135 đã đầu tư 376 tỷ đồng vào 49 xã, 64 thôn đặc biệt khó khăn để xây dựng 12 trung tâm cụm xã và 575 hạng mục công trình gồm đường giao thông nông thôn, thủy lợi, trạm y tế, phòng học, nhà văn hóa xã, quy hoạch điểm dân cư, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đào tạo cán bộ... Các chương trình 132, 134, 403 đầu tư 195,8 tỷ đồng giải quyết đất sản xuất cho 5.601 hộ, hơn 8 nghìn hộ được cấp nước sinh hoạt, làm và sửa chữa nhà cho 10.948 hộ, 11.896 hộ nhận khoán quản lý bảo vệ 297.400 ha rừng. Chương trình 168 chi 192 tỷ đồng, cấp miễn phí cho đồng bào muối I ốt, dầu lửa, thuốc chữa bệnh, máy thu thanh...

Tuy vẫn còn hạn chế song nguồn đầu tư lớn, liên tục và toàn diện đã tạo nên sự chuyển biến khởi sắc trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng. Đến nay, đã có 97%đường ô tô được thảm nhựa đến tất cả các xã, 100% xã có điện đến trung tâm xã, trên 70% hộ dùng điện lưới quốc gia; 60% hộ sử dụng nước sạch sinh hoạt nông thôn, các xã đều có trường tiểu học, trung học cơ sở; 100% xã có trạm y tế và điện thoại; số hộ đồng bào xem được truyền hình là 92%, hộ nghèo giảm bình quân 1,7%/năm. Nhờ đầu tư phát triển đồng bộ, nhiều xã đồng bào dân tộc thiểu số đã trở thành những vùng nông thôn trù phú như Đạ Đờn (Lâm Hà), Tân Thượng (Di Linh)..., một số xã có hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thuộc diện giàu, thu nhập bình quân từ 300 – 500 triệu đồng/ năm.

Ở Bình Phước, các dự án, chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đã phát huy hiệu quả mang lại những thay đổi lớn ở khu vực nông thôn miền núi. Hiện nay, số hộ đói, hộ nghèo giảm đáng kể, số hộ khá, hộ giàu ngày càng tăng. Mạng lưới giáo dục, y tế ở cơ sở đã đóng góp quan trọng vào việc nâng cao dân trí và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số; những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tiếp tục được bảo tồn và phát huy.

Toàn tỉnh đã xây dựng được 525 nhà văn hóa cộng đồng. Các khu di tích lịch sử, di tích cách mạng, di tích văn hóa, vườn quốc gia ở miền núi, vùng dân tộc được đầu tư, bảo tồn, quản lý như: Sóc Bom Bo, khu bảo tồn vườn quốc gia Bù Gia Mập... Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được coi trọng giữ gìn và tiếp tục phát huy như: Lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào S’tiêng xã Đa Kia, huyện Phước Long; Lễ phá bàu của đồng bào S’tiêng ở xã Tân Quan, huyện Chơn Thành; Tết cổ truyền Cholchơnăm Thmây, Sen Đon Ta của đồng bào Khơmer... 100% xã có điểm bưu điện văn hóa, báo chí được đưa xuống tận các thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và vùng đặc biệt khó khăn. Mạng lưới đài truyền thanh và trạm truyền thanh cơ sở phủ sóng toàn tỉnh, phương tiện nghe nhìn vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng tăng cao, 70% thôn, ấp có cụm loa truyền thanh, 80% số hộ có đài, ti vi.

Trong công tác quy hoạch cán bộ, tỉnh chú trọng tới đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số có phẩm chất, trình độ và năng lực thực tiễn để quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm thường xuyên đã góp phần thay đổi nhận thức và nâng cao nếp sống văn minh trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; hệ thống cơ sở khám chữa bệnh trải rộng khắp các địa phương với 8 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, 99 trạm y tế. Sở Y tế tỉnh đã cấp 80.000 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số. Chính sách y tế thôn bản ở các vùng trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được duy trì, nhất là công tác tuyên truyền để đồng bào hợp tác thay đổi hành vi sinh hoạt, nếp sống vệ sinh và biết tham gia phòng ngừa bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe sinh sản, thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đã vận động các bà mẹ đưa được 3.137 cháu là đồng bào dân tộc đến các điểm tiêm phòng, khám sức khỏe định kỳ; vận động chị em phụ nữ đồng bào dân tộc tiêm thuốc ngừa thai, khám thai, khám phụ khoa với 3.815 lượt chị em phụ nữ tham gia.

Nhờ sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, cuộc sống của đồng bào Khmer ở Kiên Giang ngày càng khởi sắc. Ngoài hệ thống hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) được quan tâm xây dựng, đồng bào còn được hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, cho vay vốn thực hiện các mô hình kinh tế...

Theo Ban Dân tộc tỉnh Kiên Giang, 3 năm qua, tỉnh đã đầu tư hơn 46 tỷ đồng xây dựng hệ thống hạ tầng cho những xã đặc biệt khó khăn, cất 7.200 căn nhà cho đồng bào Khmer nghèo với tổng trị giá 56,7 tỷ đồng. Toàn tỉnh đã có 24/42 xã của 9 huyện thoát khỏi Chương trình 135; 63/64 xã có đồng bào Khmer sinh sống có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống thủy lợi bảo đảm phục vụ sản xuất, 79,62% số hộ có điện sử dụng và 77,93% số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Theo thống kê, mỗi năm số hộ nghèo trong đồng bào Khmer của Kiên Giang giảm đáng kể, nhưng số hộ tái nghèo cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ. Năm 2007, có 3.156 hộ thoát nghèo, thì lại có 1.758 hộ nghèo mới phát sinh, năm 2008 con số này cũng tương tự. Bên cạnh đó, tình trạng cầm cố, sang nhượng đất đai trong đồng bào Khmer có xu hướng tăng; một bộ phận người dân chưa tích cực trong lao động sản xuất, còn trông chờ, ỷ lại... Đây là nguyên nhân níu kéo công tác xóa đói, giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Kiên Giang.

Trưởng ban Dân tộc tỉnh Danh Ngọc Hùng cho rằng: “Trước mắt, tỉnh sẽ tiếp tục tập trung các nguồn vốn để đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn; triển khai các chính sách hỗ trợ của Chương trình 135. Riêng về hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào, hiện Kiên Giang không còn quỹ đất. Theo đó, tỉnh chỉ giải quyết chuộc lại đất cho những hộ cầm cố có nhu cầu sản xuất”.

Tại Thái Nguyên, thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ dân tộc thiểu số nghèo UBND tỉnh đã ban hành quyết định hỗ trợ trên địa bàn, trong đó quy định ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm 20% so với ngân sách Trung ương.

Đến nay sau bốn năm thực hiện, tỉnh đã hỗ trợ làm nhà cho 4.201 hộ (đạt 97,36%); hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 3.867 hộ (đạt 95,69%); hỗ trợ đất ở cho 253 hộ (đạt 100%); đầu tư xây dựng 80 công trình nước tập trung cho 113 xóm, bản với 7.408 hộ được sử dụng... Tổng số tiền thực hiện đạt gần 85 tỷ đồng. UBND tỉnh chỉ đạo khảo sát và đề xuất với Chính phủ trong thời gian tới tiếp tục hỗ trợ làm nhà ở cho 7.148 hộ dân, hỗ trợ nước phân tán cho 7.199 hộ, hỗ trợ đất ở cho 160 hộ, hỗ trợ đất sản xuất cho 5.311 hộ, xây dựng công trình nước tập trung tại 350 xóm, bản.

Cơ quan chức năng các cấp của tỉnh đang tập trung chỉ đạo kiểm tra, giám sát chất lượng các công trình đã thực hiện và đề nghị Thường trực Ban chỉ đạo tỉnh đánh giá lại các công trình để rút kinh nghiệm thực hiện trong thời gian tới và chú trọng quan tâm chuyển nghề cho người nghèo. Ban chỉ đạo các cấp của tỉnh đã linh hoạt trong việc hỗ trợ các công trình dành cho dân, thực hiện phương châm đa dạng hóa nguồn thu, huy động mọi nguồn lực để giải quyết hiệu quả hơn nhiệm vụ này trên địa bàn tỉnh.



Các tin đã đưa ngày: